Bài viết

Tài liệu Luật kinh tế Social Sciences

Chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự điều tiết vĩ mô của nhà nước đến nền kinh tế đã nâng cao vai trò của Luật kinh tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Luật kinh tế đã tạo một môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh đảm bảo sự trật tự và ổn định của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy muốn kinh doanh trong nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm rõ những quy định của pháp luật về kinh tế nói chung và luật kinh tế nói riêng. Với mục đích trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về luật kinh tế, trong chương này chúng tôi đã đưa ra khái niệm cơ bản, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế.
Tài liệu Luật kinh tế Social Sciences

Chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự điều tiết vĩ mô của nhà nước đến nền kinh tế đã nâng cao vai trò của Luật kinh tế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Luật kinh tế đã tạo một môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh đảm bảo sự trật tự và ổn định của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy muốn kinh doanh trong nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm rõ những quy định của pháp luật về kinh tế nói chung và luật kinh tế nói riêng. Với mục đích trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về luật kinh tế, trong chương này chúng tôi đã đưa ra khái niệm cơ bản, đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế. Chương 8 cũng nêu ra những khái niệm, đặc trưng pháp lý của các loại hình doanh nghiệp, những hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh. Phá sản là sự đào thải tất yếu của thị trường đối với các doanh nghiệp kinh doanh kém, đã được pháp luật điều chỉnh đặc biệt là những quan hệ xã hội ảnh hưởng đến đời sống kinh tế như quyền lợi của người lao động, của chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản,…do đó trong chương này chúng tôi đã nêu ra những dấu hiệu cho thấy một doanh nghiệp lâm vào tình trạng pháp sản, trình tự thủ tục giải quyết việc phá sản mà luật phá sản đã quy định.

Khái niệm Luật kinh tế

Khái niệm

Luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau.

Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế

Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế do luật kinh tế tác động vào bao gồm:

Nhóm quan hệ quản lý kinh tế

- Là quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh.

- Đặc điểm của nhóm quan hệ này:

+ Quan hệ quản lý kinh tế phát sinh và tồn tại giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan bị quản lý (Các chủ thể kinh doanh) khi các cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lú của mình.

+ Chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí bất đẳng (Vì quan hệ này hình thành và được thực hiện dựa trên nguyên tắc quyền uy phục tùng).

+ Cơ sở pháp lý: Chủ yếu thông qua các văn bản pháp lý do các cơ quan quản lý có thẩm quyền ban hành.

Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau.

- Đây là những quan hệ kinh tế thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.

Trong hệ thống các quan hệ kinh tế thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế, nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ chủ yếu, thường xuyên và phổ biến nhất.

- Đặc điểm:

+ Chúng phát sinh trực tiếp trong quá trình kinh doanh nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.

+Chúng phát sinh trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng kinh tế hoặc những thoả thuận.

+ Chủ thể của nhóm quan hệ này chủ yếu là các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quan hệ này trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và các bên cùng có lợi.

+ Nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ tài sản - quan hệ hàng hoá - tiền tệ

Quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một số doanh nghiệp

Là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh giữa tổng công ty, tập đoàn kinh doanh và các đơn vị thành viên cũng như giữa các đơn vị thành viên trong nội bộ tổng công ty hoặc tập đoàn kinh doanh đó với nhau...

Cơ sở pháp lý: Thông qua nội quy, quy chế, điều lệ, cam kết.

Phương pháp điều chỉnh

Do luật kinh tế vừa điều chỉnh quan hệ quản lý kinh tế giữa chủ thể không bình đẳng vừa điều chỉnh quan hệ tài sản giữa các chủ thể bình đẳng với nhau phát sinh trong quá trình kinh doanh cho nên luật kinh tế sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp tác động khác nhau như kết hợp phương pháp mệnh lệnh với phương pháp thoả thuận theo mức độ linh hoạt tuỳ theo từng quan hệ kinh tế cụ thể.

Tuy nhiên Phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế được bổ xung nhiều điểm mới: Phương pháp mệnh lệnh trong điều chỉnh pháp lý các hoạt động kinh doanh hầu như không còn được áp dụng rộng rãi. Các quan hệ tài sản với mục đích kinh doanh được trả lại cho chúng nguyên tắc tự do ý chí tự do khế ước.

Phương pháp mệnh lệnh

Được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh nhóm quan hệ quản lý kinh tế giữa các chủ thể bất bình đẳng với nhau. Để phù hợp với đặc trưng của nhóm quan hệ này luật kinh tế đã tác động vào chúng bằng cách quy định cho các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế trong phạm vi chức năng của mìnhcó quyền ra quyết định chỉ thị bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh (bên bị quản lý). Còn bên bị quản lý có nghĩa vụ thực hiện quyết định đó.

Phương pháp thoả thuận

Được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau.

Bản chất của phương pháp này thể hiện ở chỗ: Luật kinh tế quy định cho các bên tham quan hệ kinh tế có quyền bình đẳng với nhau, thoả thuận những vấn đề mà các bên quan tâm khi thiết lập hoặc chấm dứt quan hệ kinh tế mà không bị phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Điều này có nghĩa là pháp luật qui định quan hệ kinh tế chỉ được coi là hình thành trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các bên và không trái với các quy định của nhà nước.

CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Doanh nghiệp nhà nước

Khái niệm

Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH.

Phân loại doanh nghiệp Nhà nước

Doanh nghiệp Nhà nước được phân thành các loại như sau:

- Công ty Nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp NN. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước.

- Doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước tổ chức dưới hình thức: công ty cổ phần Nhà nước, công ty TNHH nhà nước 1 hoặc 2 thành viên trở lên.

+ Công ty cổ phần nhà nước: là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp.

+ Công ty TNHH nhà nước 1 thành viên: là công ty TNHH do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp.

+ Công ty TNHH nhà nước có 2 thành viên trở lên: là công ty TNHH trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật DN.

- Công ty có 1 phần vốn góp của nhà nước là doanh nghiệp mà phần vốn góp của nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống.

Các loại hình công ty

Công ty TNHH 1 thành viên

*Khái niệm:: là Doanh nghiệp do 1 tổ chức làm chủ sở hữu (chủ sở hữu Công ty): Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ, tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ

* Đặc trưng pháp lý của Công ty TNHH 1 thành viên:

+ Chỉ có 1 thành viên vàthành viên đó phải là tổ chức.

+ Có tư cách pháp nhân và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn Điều lệ của Công ty.

+ Công ty được quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của Công ty cho các tổ chức cá nhân khác (khi đó nó sẽ chuyển sang hình thức Công ty khác, (trừ trường hợp chuyển toàn bộ vốn điều lệ cho một tổ chức khác).

+ Không được quyền phát hành cổ phiếu.

Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên: (Sở hữu chung theo phần)

* Khái niệm: Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, trong đó thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức số lượng thành viên ít nhất là 2 và nhiều nhất không vượt quá 50 người.

* Đặc trưng pháp lý (đặc điểm):

+ Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng không liên quan gì đến tài sản của các thành viên Công ty.

+ Thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân nhưng số lượng thành viên ít nhất phải là 2 và không vượt quá 50 người.

+ Không được quyền phát hành cổ phiếu.

+ Vốn điều lệ của Công ty không chia thành các phần bằng nhau, mỗi thành viên Công ty chỉ có một phần vốn góp vào Công ty không thể hiện dưới dạng cổ phần, cổ phiếu và không thể đem trao đổi tự do ở thị trường chứng khoán.

+ Công ty trách nhiệm đối với chủ nợ bằng tài sản của công ty các thành viên Công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốn đóng góp vào Công ty.

Các thành viên chỉ có thể chào bán phần vốn đó cho các thành viên của Công ty, hoặc chỉ có thể chuyển nhượng cho người không phải là thành viên Công ty nếu các thành viên còn lại không mua hoặc mua không hết do đó việc thay đổi thành viên vì thế cũng rất hạn chế.

Trường hợp thành viên là cá nhân chết thì người thừa kế chỉ có thể trở thành thành viên của Công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận.

Công ty chỉ được chia lợi nhuận cho các thành viên khi Công ty có lãi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác và ngay sau khi chia lợi nhuận Công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đã đến hạn khác.

Khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn trả thì Giám đốc Công ty phải thông báo tình hình tài chính của Công ty cho tất cả các thành viên của Công ty và chủ nợ biết, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại xảy ra đối với chủ nợ.

Công ty cổ phần

* Khái niệm: là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, do nhiều thành viên góp vốn thông qua việc mua cổ phiếu. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, được quyền phát hành chứng khoán và chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp.

* Đặc điểm của Công ty cổ phần:

- Thành viên: do nhiều thành viên góp vốn. Số luợng tối thiểu thành viên của Công ty cổ phần là 3 thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn điều lệ.

- Tài sản của Công ty hoàn toàn tách biệt với tài sản của thành viên của Công ty.

- Vốn của Công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

- Thành viên của Công ty gọi là cổ đông. Mỗi cổ đông có thể là chủ sở hữu của một hay nhiều cổ phần. Mỗi cổ phần được thể hiện duới hình thức một tờ phiếu gọi là cổ phiếu.

- Giá trị cổ phần ghi trên cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu.

- Cổ phiếu chứng minh tư cách thành viên của Công ty.

- Trong Công ty cổ phần có các loại cổ phần: cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông.

Công ty hợp danh (dựa trên cơ sở quan hệ nhân thân)

* Khái niệm: Công ty hợp danh là doanh nghiệp mà trong đó ít nhất có 2 thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty.

* Đặc điểm:

- Có ít nhất 2 thành viên hợp danh có trình độ chuyên môn,uy tín, nghề nghiệp, ngoài ra còn có thể có các thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.

- Là Công ty không có tư cách pháp nhân.

- Không được phép phát hành bất cứ 1 loại chứng khoán nào.

- Các thành viên hợp danh đều có quyền ngang nhau trong việc quản lý và tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.

- Các thành viên góp vốn không có quyền hoạt động nhân danh Công ty, không có quyền điều hành Công ty. Chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi phần vốn góp. Đuợc chia lợi nhuận theo tỷ lệ qui định trong điều lệ Công ty (⇔ cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại của Công ty cổ phần).

Doanh nghiệp tư nhân

Khái niệm doanh nghiệp tư nhân

Là doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

- Mọi công dân Việt Nam đủ 18 tuổi đều có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân nếu có đủ các điều kiện luật định (về nhân thân, về kinh tế, về khả năng kinh doanh).

Cá nhân phải làm đơn xin phép thành lập và cơ quan có thẩm quyền xem xét trong thời gian 30 ngày. Sau khi được cấp giấy phép thành lập, trong thời gian 60 ngày chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký kinh doanh và đăng báo.

- Khi doanh nghiệp tư nhân muốn giải thể phải làm đơn đến cơ quan đã cấp giấy phép thành lập và đăng báo. Khi lâm vào tình trạng phá sản thì cơ quan có thẩm quyền tuyên bố phá sản DNTN là Tòa kinh tế tỉnh nơi DNTN đặt trụ sở chính.

Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân:

- Là doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân.

- Do 1 cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ ⇒ chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quản lý Công ty.

- Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Doanh nghiệp liên doanh: doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước CHXHCNVN và chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.

- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH

Khái niệm Tranh chấp trong kinh doanh

Tranh chấp kinh tế là những bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của mình. Nó là những tranh chấp nảy sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh

- Nhanh chóng và dứt khoát hạn chế tối đa sự gián đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.

- Đảm bảo dân chủ trong quá trình giải quyết tranh chấp

- Bảo vệ uy tín của các bên trên thương trường

- Đảm bảo các yếu tố bí mật trong kinh doanh

- Đạt hiệu quả thi hành cao nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp của các bên.

Các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh

-Thương lượng: Là hình thức giải quyết tranh chấp thường không cần đến vai trò tác động của bên thứ 3. Đặc điểm cơ bản của hình thức giải quyết tranh chấp này là các bên cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết các bất đồng.

-Hoà giải: Là hình thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ 3 đóng vai

trò làm trung gian để hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm chấm dứt xung đột hoặc bất hoà. Cũng như thương lượng hoà giải là giải pháp tự nguyện tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên tham gia tranh chấp.

- Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài:

Là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài với tư cách là bên thứ 3 độc lập nhằm chấm dứt xumg đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tham gia tranh chấp phải thực hiện.

- Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án:

Là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan toà án của nhà nước thực hiện.

Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp thông qua toà án được tiến hành khi mà việc áp dụng biện pháp thương lượng hoặc hoà giải không có hiệu quả và các bên tranh chấp cũng không thoả thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài.

PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

Khái quát về phá sản và doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Phá sản là sự đào thải tất yếu của thị trường đối với các doanh nghiệp kinh doanh kém, cần được pháp luật điều chỉnh đặc biệt là những quan hệ xã hội ảnh hưởng đến đời sống kinh tế như quyền lợi của người lao động, của chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản,…

Theo Luật phá sản thì doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong kinh doanh, sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Trong điều kiện như vậy, các chủ nợ, đại diện công đoàn tại doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp có quyền nộp đơn đến tòa án kinh tế nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Thẩm phán Tòa án kinh tế phải yêu cầu doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản xây dựng những phương án hòa giải với chủ nợ và các giải pháp nhằm tổ chức lại kinh doanh, những biện pháp đặc biệt nhằm đưa doanh nghiệp ra khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán. Trong khi giải quyết các yêu cầu tuyên bố phá sản, thẩm phán và tổ quản lý tài sản có những quyền hạn quản lý nhất định được Luật phá sản quy định. Sau khi những biện pháp không có hiệu quả, thẩm phán Tòa án kinh tế ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Trình tự thủ tục phá sản

Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

* Các đối tượng có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

- Các chủ nợ.

- Người lao động.

- Doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản.

- Chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước.

- Cổ đông công ty cổ phần.

- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh.

* Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản kể từ ngày người nộp đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phá sản. Trường hợp người nộp đơn không phải nộp tiền tạm ứng án phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Tòa án nhận được đơn. Tòa án phải cấp cho người nộp đơn giấy báo đã thụ lý đơn.

* Thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

Trường hợp người nộp đơn không phải là chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản thì trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án phải thông báo cho doanh nghiệp, HTX đó biết.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, DN-HTX phải xuất trình cho Tòa án các giấy tờ, tài liệu quy định tại K4Đ15 LPSDN.

* Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản:

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tòa án phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.

- Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản.

- Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy DN,HTX chưa lâm vào tình trạng phá sản.

Quyết định của Tòa án A về mở thủ tục phá sản được gửi cho DN,HTX lâm vào tình trạng phá sản, VKS cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi DN,HTX lâm vào tình trạng phá sản có địa chỉ chính, báo hàng ngày của TƯ trong ba số liên tiếp.Quyết định này phải được thông báo cho các chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản biết.

* Hoạt động kinh doanh của DN,HTX sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản:

Mọi hoạt động kinh doanh của DN,HTX sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản.

* Các hoạt động của DN,HTX bị cấm hoặc bị hạn chế:

Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản nghiêm cấm DN,HTX thực hiện 1 số họat động sau hoặc nếu có phải được sự đồng ý của Thẩm phán trước khi thực hiện:

- Cất giấu, tẩu tán tài sản.

- Thanh toán nợ không có bảo đảm.

- Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ.

- Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản.

- Vay tiền...

* Danh sách chủ nợ:

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Tòa án, trong đó nêu cụ thể các khỏan nợ, số nợ đến hạn và chưa đến hạn, số nợ có bảo đảm và không có bảo đảm. Kèm theo giấy đòi nợ là các tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó. Hết thời hạn này, các chủ nợ không gửi giấy đòi nợ đến Tòa án thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ.

* Lập danh sách chủ nợ:

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết hạn gửi giấy đòi nợ Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải lập xong danh sách chủ nợ và số nợ. Danh sách chủ nợ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án tiến hành thủ tục phá sản và trụ sở chính của doanh nghiệp, HTX trong thời hạn 10 ngày kểt từ ngày niêm yết. Trong thời hạn này các chủ nợ và DN,HTX lâm vào tình trạng phá sản có quyền khiếu nại với Tòa án về danh sách chủ nợ.

* Hội nghị chủ nợ:

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập xong danh sách chủ nợ Thẩm phán phải triệu tập Hội nghị chủ nợ.

Người có quyền tham gia hội nghị chủ nợ:

- Các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ.

- Đại diện cho người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền.

- Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản.

Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Thẩm phán ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế họach thanh tóan nợ cho các chủ nợ và yêu cầu DN,HTX phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Phương án này phải đựoc xây dựng trong thời gian 30 ngày.

* Các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh gồm:

- Huy động vốn mới.

- Thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh.

- Đổi mới công nghệ sản xuất.

- Tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất.

- Bán lại cổ phần cho các chủ nợ.

- Bán hoặc cho thuê tài sản không cần thiết.

- Các biện pháp khác không trái pháp luật.

* Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh được đưa ra xem xét tại Hội nghị chủ nợ. Nghị quyết về phương án phục hồi họat động kinh doanh của DN,HTX được thông qua khi có quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm có mặt đại diện cho từ hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành.

* Thời hạn tối đa để thực hiện phương án phục hồi họat động kinh doanh của DN,HTX lâm vào tình trạng PS là 3 năm kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của Tòa án công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN,HTX.

Thủ tục thanh lý tài sản

Các trường hợp ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản:

Sau khi Hội nghị chủ nợ lần thư nhất thông qua Nghị quyết đồng ý với dự kiến các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế họach thanh tóan nợ cho các chủ nợ và yêu cầu DN,HTX phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, nếu có 1 trong các trường hợp sau đây thì TA ra quyết điijnh mở thủ tục thanh lý tài sản của DN,HTX:

- DN,HTX không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn quy định.

- Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của DN,HTX.

- DN,HTX thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

Tuyên bố DN,HTX bị phá sản

* Thẩm phán ra quyết định tuyên bố DN,HTX bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản.

* Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định tuyên bố DN,HTX bị phá sản Tòa án phải gửi và thông báo giống như quyết định mở thủ tục phá sản.

* Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định tuyên bố phá sản có hiệu lực pháp luật, TA phải gửi quyết định cho cơ quan đăng ký kinh doanh để xóa tên DN HTX trong sổ đăng ký kinh doanh.

* Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi DN, HTX bị tuyên bố phá sản:

- Người giữ chức vụ Giám đốc, Tổng giám đốc, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của công ty, Tổng công ty 100% vốn nhà nước bị tuyên bố PS không được cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào, kể từ ngày công ty, tổng công ty bị tuyên bố phá sản.

- Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của Công ty hợp danh, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp, Chủ nhiệm và các thành viên Ban quản trị HTX bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập DN, HTX, không được làm người quản lý DN, HTX trong thời hạn từ 1 đến 3 năm kể từ ngày DN,HTX bị tuyên bố phá sản.

* Xử lý tài sản của DN bị phá sản:

Khi có quyết định tuyên bố phá sản DN, tòan bộ tài sản của DN bị tuyên bố phá sản được thu hồi và bán đấu giá để chi phí cho việc phá sản và trả nợ cho các chủ nợ (ta gọi là giá trị tài sản còn lại của DN). Việc phân chia giá trị tài sản còn lại của DN được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:

- Các khoản lệ phí, chi phí cho việc giải quyết phá sản DN.

- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký.

- Các khoản nợ thuế.

- Các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ.

- Nếu sau khi đã trả các khỏan trên mà tài sản của DN vẫn còn thì phần tài sản còn lại sẽ thuộc về chủ sở hữu của doanh nghiệp.

TÓM TẮT CHƯƠNG 8

1. Luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau.

2. Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế do luật kinh tế tác động vào bao gồm:

- Nhóm quan hệ quản lý kinh tế

- Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau.

- Quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một số doanh nghiệp

3. Phương pháp điều chỉnh

- Phương pháp mệnh lệnh:

Được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh nhóm quan hệ quản lý kinh tế giữa các chủ thể bất bình đẳng với nhau.

- Phương pháp thoả thuận:

Được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau.

4. Các loại hình doanh nghiệp

- Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH.

- Công ty TNHH 1 thành viên là Doanh nghiệp do 1 tổ chức làm chủ sở hữu (chủ sở hữu Công ty): Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ, tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ.

- Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, trong đó thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức số lượng thành viên ít nhất là 2 và nhiều nhất không vượt quá 50 người.

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, do nhiều thành viên góp vốn thông qua việc mua cổ phiếu. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, được quyền phát hành chứng khoán và chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp.

-Công ty hợp danh là doanh nghiệp mà trong đó ít nhất có 2 thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty.

- Khái niệm doanh nghiệp tư nhân Là doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

- Doanh nghiệp liên doanh: doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước CHXHCNVN và chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.

- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

5. Tranh chấp kinh tế là những bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của mình. Nó là những tranh chấp nảy sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh.

6. Các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh

- Thương lượng;

- Hoà giải;

- Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài;

- Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án;

7. Phá sản là sự đào thải tất yếu của thị trường đối với các doanh nghiệp kinh doanh kém, cần được pháp luật điều chỉnh đặc biệt là những quan hệ xã hội ảnh hưởng đến đời sống kinh tế như quyền lợi của người lao động, của chủ nợ khi doanh nghiệp phá sản,…

Theo Luật phá sản thì doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong kinh doanh, sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Trong điều kiện như vậy, các chủ nợ, đại diện công đoàn tại doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp có quyền nộp đơn đến tòa án kinh tế nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

8. Trình tự thủ tục phá sản

- Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

- Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh;

- Thủ tục thanh lý tài sản;

- Tuyên bố DN, HTX bị phá sản.

nothing Read more: http://thuyk.com/article/tich-hop-thong-tin-thoi-tiet-vao-website-p1-174#ixzz48E59Lx6K